Lao động nước ngoài không thể ngăn chặn sự suy giảm dân số của Hàn Quốc: nghiên cứu
페이지 정보
본문
Hàn Quốc cần nguồn lao động chuyên môn để thúc đẩy chuyển dịch công nghiệp
Hàn Quốc ngày càng phụ thuộc vào lao động nước ngoài để giải quyết tình trạng dân số đang giảm sút, một vấn đề đặc biệt nghiêm trọng ở các vùng nông thôn, nhưng một nghiên cứu mới cảnh báo rằng cách tiếp cận này có giới hạn vì dân số trong nước tiếp tục giảm.
Một báo cáo gần đây của Văn phòng Ngân sách Quốc hội cho thấy cư dân nước ngoài hiện chiếm tỷ lệ ngày càng tăng trong dân số Hàn Quốc và đang lan rộng ra ngoài khu vực Seoul.
Nhưng các chuyên gia, bao gồm Lee Sang-lim, một nhà nghiên cứu tại Viện Y tế và Xã hội Hàn Quốc, nhanh chóng cảnh báo rằng giải pháp tạm thời về nhân khẩu học này không mang lại giải pháp cơ bản, lập luận rằng đầu vào kinh tế hạn chế và đóng góp thuế của lao động tạm thời sẽ hạn chế tăng trưởng thực sự của địa phương.
Lee cho biết: “Cư dân nước ngoài ở các vùng nông thôn có thể làm chậm tốc độ suy giảm dân số, nhưng họ không phải là giải pháp cơ bản”.
Số lượng cư dân nước ngoài đã tăng lên 2,58 triệu vào năm ngoái, đẩy tỷ lệ dân số của họ từ 3,4 phần trăm vào năm 2015 lên 5 phần trăm vào năm 2024. Trong cùng kỳ, dân số đăng ký thường trú - không bao gồm người nước ngoài - đạt đỉnh là 51,85 triệu vào năm 2019 và kể từ đó đã giảm khoảng 630.000.
Trong số 229 thành phố của đất nước, 211 thành phố, tương đương 92,1 phần trăm, có dân số người nước ngoài tăng lên trong giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2024.
Sự thay đổi này đặc biệt rõ rệt ngoài khu vực Seoul rộng lớn, nơi tỷ lệ cư dân nước ngoài bên ngoài Seoul, Incheon và tỉnh Gyeonggi tăng từ 40,6 phần trăm vào năm 2019 lên 43,3 phần trăm vào năm 2024, nhấn mạnh tốc độ suy giảm dân số đang biến đổi nhanh chóng mọi ngóc ngách của Hàn Quốc.
Những khu vực được coi là có nguy cơ tuyệt chủng — nơi dân số từ 65 tuổi trở lên ít nhất gấp đôi số phụ nữ từ 20 đến 39 tuổi — đã chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ hơn nữa về cư dân nước ngoài. Trong số 130 khu vực như vậy, 35 khu vực ghi nhận mức tăng hơn 50% trong giai đoạn 2019-2024.
Báo cáo lưu ý rằng ở những khu vực có dân số bản địa đang giảm sút, cư dân nước ngoài vẫn duy trì nhu cầu lao động, tiêu dùng và dịch vụ tại địa phương, bù đắp hiệu quả cho tình trạng mất đi người dân địa phương trong độ tuổi lao động.
Chính phủ đang sử dụng sự thay đổi này để chống lại tình trạng suy giảm dân số, mở rộng vai trò của dòng vốn nước ngoài từ việc lấp đầy khoảng trống lao động sang củng cố nền kinh tế khu vực.
Năm 2022, Bộ Tư pháp đã giới thiệu thị thực F-2-R dành riêng cho từng khu vực để phản ánh nhu cầu lao động địa phương. Năm sau, Bộ đã nêu rõ mục tiêu phát triển kinh tế và khu vực thông qua nhập cư trong Kế hoạch Tổng thể về Chính sách Nhập cư.
Cách tiếp cận đó mở rộng sang việc chăm sóc, một nhu cầu cấp thiết ở một quốc gia đã trở thành quốc gia siêu già vào năm ngoái, với số người từ 65 tuổi trở lên vượt quá 10 triệu người và chiếm hơn 20 phần trăm dân số.
Tháng 6 năm ngoái, chính phủ đã mở cơ hội việc làm chăm sóc người cao tuổi cho sinh viên nước ngoài tốt nghiệp các trường đại học Hàn Quốc. Năm nay, chính phủ đã chỉ định 24 trường đại học đào tạo điều dưỡng viên nước ngoài và dự kiếntriển khai chương trình thí điểm từ năm 2026 đến 2027.
Bất chấp sự gia tăng số lượng cư dân nước ngoài và các chính sách liên quan, báo cáo của Văn phòng Ngân sách Quốc hội cảnh báo rằng dòng vốn nước ngoài có thể có tác động hạn chế ở những khu vực mà dân số bản địa đang giảm sút, lưu ý rằng triển vọng tăng trưởng dài hạn là rất hiếm ở những khu vực này.
Theo nghiên cứu, việc dựa vào lao động nước ngoài tạm thời sẽ ổn định sản xuất hiện tại trong lĩnh vực nông nghiệp và sản xuất, nhưng không thu hút được lực lượng lao động có trình độ cao cần thiết cho việc nâng cấp công nghiệp hoặc thành lập các hộ gia đình ổn định nhằm thúc đẩy tiêu dùng trong khu vực.
Ông Lee tại Viện Y tế và Xã hội Hàn Quốc cho biết vì hầu hết người lao động nước ngoài ở các vùng miền chủ yếu đến đây để kiếm tiền nên mức chi tiêu của họ ở Hàn Quốc có xu hướng vẫn ở mức tương đối thấp, dẫn đến đóng góp hạn chế cho nền kinh tế địa phương.
“Cũng khó có thể coi cư dân nước ngoài ở các vùng nông thôn là đã ổn định cuộc sống hoàn toàn,” Lee nói thêm. “Và vì mức đóng góp thuế của họ tương đối hạn chế, nên họ nên được coi là sự hiện diện bổ sung cho sự suy giảm dân số, chứ không phải là động lực thúc đẩy sự phục hồi của khu vực.”
Báo cáo cũng lưu ý rằng ngay cả khi lao động nước ngoài giúp bù đắp tình trạng thiếu hụt lao động trong ngắn hạn thì đóng góp của họ cho tăng trưởng vẫn bị hạn chế ở những khu vực có dân số bản địa suy yếu do nhu cầu địa phương và hoạt động công nghiệp.
Báo cáo cũng nhấn mạnh rằng tăng trưởng bền vững đòi hỏi phải chuyển hướng từ việc phụ thuộc vào lao động đòi hỏi ít đào tạo sang các chính sách nhập cư tăng cường năng lực công nghệ và thúc đẩy nâng cấp công nghiệp.
Tính đến năm 2024, chỉ có 15,6 phần trăm trong số khoảng 547.000 lao động nước ngoài có thị thực lao động được phân loại là "có tay nghề", trong khi 84,3 phần trăm được phân loại là "kỹ năng thấp". Ở các thành phố lớn, tỷ lệ lao động có tay nghề tương đối cao hơn, nhưng ở hầu hết các khu vực khác, lao động có kỹ năng thấp chiếm hơn 80 phần trăm.
Văn phòng Ngân sách Quốc hội cho biết với tờ The Korea Times rằng: "Để đảm bảo dòng vốn nước ngoài thực sự hỗ trợ cho sự phục hồi của khu vực, cần phải nghiên cứu thêm về cách củng cố cơ cấu kinh tế cơ bản của khu vực".

